Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Đề tin tài…

QĐND- Với các nhà văn thì chỉ sợ không có thiên tài chứ không bị phụ thuộc vào cái giới hạn một đề tài cụ thể. Đương nhiên vừa có tài lại vừa có đề tài quen thuộc để “thâm canh” thì tác phẩm càng có nhiều triển vọng. Đề tài là khái niệm chỉ các hiện tượng đời sống được diễn tả, phản ánh trực tiếp thuần khiết tác. Nên chi, người ta xác định đề tài theo giới hạn ngoài mặt của khuôn khổ hiện thực, như đề tài đương đầu, đề tài sinh sản, đề tài thiên nhiên… Nhìn ở giác độ các phạm trù tầng lớp lịch sử, có thể phân loại thành: Đề tài lịch sử, đề tài sử thi, đề tài công nhân, đề tài nông thôn… Tức là có rất nhiều, không giới hạn, không cấm kỵ, miễn là nhà văn có vốn sống, có nhân tài để thai nghén tác phẩm.

Nhưng ở lĩnh vực nghiên cứu văn chương thì vấn đề có khác. Đặc trưng của khoa học bao giờ cũng đòi hỏi các tính chất: Phải mới mẻ, phải đáng tin cẩn, phải có lượng thông tin; phải khách quan, có tính kế thừa, chung cục là phải có tính cá nhân rất rõ. Chính nên chi mà việc lựa chọn đề tài cực kỳ quan trọng. Nhất là đối với người nghiên cứu văn học, chọn được một đề tài thỏa mãn các đặc trưng trên nghĩa là anh ta đã có hướng đi, có phương pháp tiếp cận, đã tưởng tượng ra các thao tác xử lý… Dân nghiên cứu hay nói “chọn đề tài” là “tài chọn đề”, là đùa nhưng lại nói được rất đúng với bản tính vấn đề.

Không riêng gì lĩnh vực nghiên cứu văn học mà là nghiên cứu nói chung, chúng ta đang có một hiện tượng đáng báo động là sự trùng lặp đề tài. Chỉ xét riêng ở ngành văn học, ví dụ một tác giả Nguyễn Khải mà có tới gần chục luận án tấn sĩ, có tới hàng mấy chục luận văn thạc sĩ, cử nhân chọn thể tiểu thuyết của ông làm đối tượng nghiên cứu. Tỉ dụ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, ít nhất có tới hàng chục luận văn thạc sĩ nghiên cứu. Đây chính là tiền đề cho các hiện tượng tiêu cực nảy và phát triển, như “chợ luận văn”, hiện tượng xào xáo, cóp-py, thuê viết luận văn…

Có mấy căn do dẫn đến hiện tượng này:

Một là, đối với chủ thể nghiên cứu thì rõ ra một căn bệnh lười tư duy, ngại sáng tạo, không dám đi vào những đề tài mới, giàu hàm lượng khoa học nhưng khó khăn về tư liệu, về phương pháp… nên chi, cho an toàn đành chọn những gì “vừa sức”, có thể là nhàn nhạt nhưng vẫn có thể được coi là một “đề tài”… Thế là người nghiên cứu thì nhàn, lại được việc mà người hướng dẫn cũng tiện và đỡ vất vả phải góp ý, bổ sung, sửa chữa…

Hai là, căn bệnh cả nể, xuê xoa của hội đồng nghiệm thu hoặc hội đồng chấm. Dù có là nhà khoa học đầu ngành đi chăng nữa thì ông ta vẫn là người Việt, mà người Việt ta thì cái căn tính duy tình tiểu nông vẫn còn sâu đậm lắm, kiểu như: “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”, và “Lời nói chẳng mất tiền mua” nên cốt sao cho “vừa lòng nhau” là được. Vả “tôi ngồi hội đồng học sinh anh, anh lại ngồi hội đồng học trò tôi”… Các cụ đã dạy “Chín bỏ làm mười” thì ta nay “bảy tám bỏ làm mười”… cũng được!

Ba là, Nhà nước mở ra quá nhiều loại hình đào tạo và tuyển quá đông các học viên nghiên cứu. Cứ thử tính sơ sơ, mỗi năm chúng ta phải có hàng trăm luận văn Thạc sĩ văn chương (chưa kể tiếng nói), Tức là phải có hàng trăm đề tài khoa học (đấy là chưa kể các loại đề tài khác của các giảng viên, các nghiên cứu viên ở cấp tổ, cấp khoa, cấp trường, cấp viện, cấp bộ…). Tức là phải có hàng trăm đối tượng nghiên cứu mỗi năm, nhiều năm dồn lại, thì dễ thấy hiện tượng người nọ giẫm vào chân người kia, là không lạ.

Bốn là, cơ chế tuyển cán bộ của ta còn nặng về bằng cấp. Đành rằng bằng cấp là yêu cầu, là tấm, bằng cấp cũng nói lên phần nào năng lực cán bộ… Nhưng ở nhiều cơ sở thì có hiện tượng này: Các sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm, nhiều cán bộ, phụ thân muốn chuyển vùng công tác, mà một yêu cầu của nhiều cơ quan quốc gia là phải có bằng thạc sĩ, thế thì, tốt nhất là đi học tiếp thạc sĩ, vừa được bằng, vừa có thời kì xin việc. Do vậy, việc làm luận văn nhiều khi chỉ cho làm phép, vội, gấp gáp… Thế thì lấy đâu ra chất lượng tốt.

Nghiên cứu khoa học luôn là sự phát hiện bản tính sự vật, đưa ra một nhận thức mới về thế giới. Nghiên cứu khoa học văn học rất quan trọng vì nó trực tiếp can hệ vào đời sống tư tưởng chính trị, văn hóa ý thức của quờ quạng chúng ta. Bởi thế, càng rất nên được sự quan tâm, để ý của toàn tầng lớp./.

HOÀNG THỊ THU GIANG